Đại cương
-
Định nghĩa: là những rối loạn nhịp nhanh kéo dài từ vài giây đến vài tháng mà các phức bộ QRS chủ yếu là mảnh. Khởi nguyên của kích thích nằm trên chỗ phân chia của bó His:
-
Nút xoang
-
Nhĩ
-
Nút nhĩ thất
-
Bó his.
-
-
Đa số trường hợp nhịp nhanh vòng vào lại, hiếm gặp hơn là do bất thường tính tự động
-
Thường kịch phát và thường có tiên lượng khả quan.
-
Trường hợp thoáng qua thường do bệnh tim thực thể hoặc quá liều digitalis.
Important
Biểu hiện ECGPhức bộ QRS đa phần có hình dáng bình thường → tuy nhiên nếu có dẫn truyền lệch hướng gây nên hình ảnh block nhánh của phức bộ thất, hoặc tồn tại sẳn block nhánh.Tần số nhĩ 100-360 lần/phútVị trí sóng P hướng về vị trí khởi nguyên của kích thích và giúp chẩn đoán phân biệt một nhịp nhanh trên thấtMột loạn nhịp hoàn toàn: gặp 4/6: rung nhĩ, cuồng nhĩ, nhịp nhanh nhĩ một ổ, nhịp nhanh nhĩ đa ổ.Không có rối loạn nhịp hoàn toàn: nhịp nhanh vào lại bộ nối nhĩ thất và nhịp nhanh trong hội chứng WPW thuận/nghịch chiều.Hiện tượng “nóng lên” báo hiệu khởi đầu của nhịp nhanh trên thất.Không có phản ứng với xoa xoang cảnh: nhịp nhanh thấtChấm dứt được nhịp nhanh: nhịp nhanh vào lại nút xoang, nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất hoặc nhịp nhanh vòng vào lại có đường dẫn truyền phụ.Phát hiện rõ nhờ xoa xoang cảnh: nhanh nhĩ, rung nhĩ hoặc có thể cuồng động nhĩ.
-
Phân loại rối loạn nhịp nhanh trên thất:
-
Rung nhĩ
-
Cuồng động nhĩ
-
Nhịp nhanh nhĩ đơn ổ
-
Nhịp nhanh nhĩ đa ổ
-
Nhịp nhanh vào lại bộ nối nhĩ thất
-
Nhịp nhanh trong hội chứng WPW thuận/nghich chiều
-
Nhịp nhanh vòng vào lại nút xoang
-
Rung nhĩ
-
Định nghĩa: hoạt động nhĩ không theo nhịp đều đặn tần số cao có dẫn truyền không đều đến thất. Tần số thất chủ yếu < 150 lần/phút.
-
Đặc trưng:
-
Tam chứng rung nhĩ:
-
Không có sóng P
-
Các sóng dạng răng cưa nhỏ hoặc lớn tần số 300- 700 lần/phút
-
Khoảng RR không đồng đều (loạn nhịp hoàn toàn)
-
-
Block quá trình dẫn truyền nhĩ thất → tần số thất chỉ 80-150 lần/phút,
-
Nguyên nhân: bệnh mạch vành, bệnh tim do tăng huyết áp, tổn thương van hai lá, cường giáp, các chất gây nghiện.
-
Phân loại:
-
Rung nhĩ kịch phát
-
Rung nhĩ kéo dài
-
Rung nhĩ vĩnh viễn
-
-
Một block AV độ III ở người lớn tuổi mắc rung/cuồng động nhĩ hoàn toàn không phải hiếm gặp → tam chứng rung nhĩ sẽ không còn đầy đủ, RR sẽ đều đặn do nhịp thay thế thất hoặc bộ nối chậm một cách đáng kể → chỉ định đặt máy tạo nhịp
-
Cuồng động nhĩ
- Định nghĩa, cuồng động nhĩ bắt đầu với tần số nhĩ > 220 lần/phút.
- Cuồng động nhĩ chia thành: thể điển hình và thể không điển hình.
-
==Cuồng động nhĩ thể điển hình==
-
Rối loạn nhịp của nhĩ phải: vòng vào lại lớn có chiều xoay sang trái đều đặn bắt đầu từ tĩnh mạch chủ trên đi dọc theo gờ tận và lỗ tĩnh mạch chủ dưới, bị chậm đáng kể ở vùng eo (giữa vòng van ba lá, chỗ đổ vào của tĩnh mạch chủ dưới và lỗ đổ vào của xoang nhĩ), quay trở về tĩnh mạch chủ trên dọc theo vách liên nhĩ
-
Nguyên nhân: gần như là bệnh tim thực thể chứ không phải là dấu hiệu của ngộ độc digitalis.
-
“Chẩn đoán hình thái”: các sóng P hình răng cưa ở các chuyển đạo II/III (đi xuống chậm, đi lên nhanh), không có đường đẳng điện ở V1= vòng vào lại lớn xoay trái ở nhĩ phải → Cuồng động nhĩ điển hình gặp ngược chiều kim đồng hồ → Sóng răng cưa này cực kỳ khó phát hiện trong dẫn truyền 2:1 do vậy phải xem kỹ ở chuyển đạo V1.
-
Cuồng động nhĩ kèm block AV độ III: nhịp thay thế đều đặn và rất chậm, sóng cuồng động nhĩ thấy rõ trên II/III, V1 → có chỉ định đặt máy tạo nhịp.
-
Điều trị (sách ECG)
-
Trường hợp thoáng qua: cuồng nhĩ → rung nhĩ (hiếm thành nhịp xoang) hoặc+- tồn tại thời gian dài
-
Cuồng nhĩ gây rối loạn nhịp nhanh tức dẫn truyền 1:1 → cần điều trị
-
Nếu tần số thất nhanh → cần điều trị kéo dài thời gian trơ của nút nhĩ thất bằng digitalis, verapamil, diltiazem, chẹn beta.
-
Sốc điện chuyển nhịp với điện thế thấp (≥ 50W).
-
-
-
Cuồng động nhĩ thể không điển hình
-
Hiếm gặp hơn nhiều so với thể điển hình, cơ chế bệnh sinh đa dạng và không rõ ràng trong tất cả các trường hợp và không phải có thể nhận biết hết trên ECG bề mặt.
-
Nguyên nhân: luôn là bệnh thực thể
-
Đa phần kích thích nhĩ theo hướng từ trên xuống do vậy có thể thấy được các sóng P dương, không có hình răng cưa, có thể phân biệt với nhau và đường đẳng điện còn tồn tại trên các chuyển đạo II/III. Sóng P dương ở V1.
-
